🐅 Diều Bay Diều Lá Tre Bay Lưng Trời
Thuyết minh về trò chơi dân gian thả diều - Bài làm 2. Thả diều không chỉ là một trò chơi thú vị, hấp dẫn của trẻ con mà còn của nhiều người thuộc các lứa tuổi khác nhau. Một mảng trời mùa hạ sẽ là không gian rộng lớn cho những cánh diều mặc sức vút lên cao, mang
Năm nay, Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam VFC lại tiếp tục thắng lớn ở giải Cánh diều khi các phim "11 tháng 5 ngày", "Thương ngày nắng về", "Mùa hoa tìm lại", "Hương vị tình thân" đều do Trung tâm sản xuất. Giải Nam, Nữ diễn viên chính xuất sắc
Những Cánh Diều Tuổi Thơ. October 14, 2013. LGT: Trong cuộc sống có nhiều chuyện mình muốn nói với ai đó, nhưng lại không thể nói trực tiếp được. Không nói được với nhau thì hãy viết cho nhau. Âu đó cũng là cơ hội để giải tỏa những tâm tư, những nỗi niềm. Mục
Không ai biết Trí đi đâu, cũng không ai biết Trí đi vì một cánh diều, chỉ mình cậu biết rõ. Nơi Trí đến sẽ là một vùng trời bao la, màu hy vọng trải xanh ngút mắt. Nơi đó đầy tự do, không có lo toan, buồn giận, cô độc, chỉ còn cánh diều xanh kiêu hãnh tung gió. Nơi đó
Cặp sách đùa trên lưng . Nhìn các thầy, các cô. Ai cũng như trẻ lại. Sân trường vàng nắng mới. Lá cờ bay như reo . Từng nhóm đứng đo nhau. Thấy bạn nào cũng lớn. Năm xưa bé tí teo. Giờ lớp ba, lớp bốn . Tiếng trống trường gióng giả. Năm học mới đến rồi. Chúng em đi
Những chiều hè gió lồng lộng thổi, bên trên triền đê sông Hồng, hàng chục cánh diều bay lượn thân khung trời trong veo, thoáng rộng. Âm tkhô nóng du dương của giờ sáo diều gợi phải hình ảnh đời sống an toàn ấm no. Dưới khía cạnh khu đất, các làn tóc thơ lẩn thẩn ngước cao, đôi mắt chăm chú dõi theo cánh diều chấp chới.
Bạn đang xem: Phân tích bài Cây tre Việt Nam tại thpttranhungdao.edu.vn Cây tre Việt Nam là tác phẩm giàu ý nghĩa biểu tượng của thi sĩ Thép Mới. Những bài văn phân tích bài Cây tre Việt Nam dưới đây ko chỉ giúp các em có thêm những hiểu biết về cây tre- loài cây gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam
Những chiếc lá vàng trên cảnh thổi bị những cơn gió thu nhẹ nhàng thổi bay trên bầu trời cao rộng. Trên trời tầng mây lơ lửng, xanh ngắt, mát mẻ và dịu dàng. Không gian yên tĩnh, lặng lẽ chỉ có những âm thanh nhỏ bé như tiếng cá đớp động.
Hình ảnh của đàn bướm tung cánh, của cầu vồng mềm mại sau cơn mưa, hay những loài động vật quen thuộc sẽ được các nghệ nhân diều khéo léo điều khiển bay lượn sinh động trên bầu trời. Du khách sẽ được chiêm ngưỡng những màn trình diễn đầy màu sắc trên bầu trời
QQZ3nK. BÀI 26 Kết quả cần đạt cảm nhận được giá trị và vẻ đẹp của cây tre - một biểu tượng về đất nước và dân tộc Việt Nam. Nắm được những đặc sắc nghệ thuật của bài kí hình ảnh chọn lọc mang ý nghĩa biểu tượng, nhịp điệu phong phú. củng cố và nâng cao kỉêh thức về câu trần thuật đơn đã học ở bậc Tiểu học. Thấy được ưu điểm và nhược điểm trong bài đoạn thơ năm chữ của mình hoặc của bạn. VĂN BẢN CÂY TRE VIỆT NAM Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam. Nước Việt Nam xanh muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa. Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi... đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn. Tre, nứa, trúc, mai, vầul1 mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mầm non măng mọc thẳng. Vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn2. Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc, Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người. Nhà thơ đã có lần ca ngợi Bóng tre trùm mát rượi. Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản3, xóm, thôn. Dưởi bóng tre của ngàn xưa, tháp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vầu giúp người trăm nghìn công việc khác nhau. Tre là cánh tay của người nông dân Cánh đồng ta năm đôi ba vụ Tre vôi người vất vả quanh năm. Tre với người như thế đã mây nghìn năm. Một thế kỉ "văn minh”, "khai hoá"4 của thực dân cũng không làm ra được một tấc sắt. Tre vẫn phải còn vat vả mãi với người. Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc. Trong mỗi gia đình nông dân Việt Nam, tre là người nhà, tre khăng khít với đời sông hằng ngày. Giang!5 chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê cái thuở ban đầu6 thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa Lạt này gói bánh chưng xanh Cho mai lấy trúcC, cho anh lấy nàng... Tre còn là nguồn vui duy nhất của tuổi thơ. Các em bé còn có đồ chơi gì nữa ngoài mây que chuyền đánh chắtí8 bằng tre. ' Tuổi già hút thuốc làm vui. Vớ chiếc điếu cày tre là khoan khoái. Nhớ lại vụ mùa trước, nghĩ đến những mùa sau, hay nghĩ đến một ngày mai sẽ khác ... Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay9, nằm trên giường tre, tre với mình, sông có nhau, chết có nhau, chung thuỷ. Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất. Người xưa có câu "Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng". Tre là thẳng thắn, bất khuất ! Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến đẩu của ta. Tre vôh cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc. Buổi đầu, không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông10 đã dựng nên thành đồng Tổ quốcơ1! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre. Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh đê’ bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động ! Tre, anh hùng chiến đấu ! ... Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê. Diều bay, diều lá tre bay lưng trời... Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời ... Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều. Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre ... "Tre già măng mọc". Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng côt sắt. Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn. mãi với dân tộc Việt Nam, chia bùi sẻ ngọt của những ngày mai tươi hát, còn mãi với chúng ta, vui hạnh phúc, hoà bình. 7 NV6/2 - A Ngày mai, trên đất nước này, sắt, thép có thể nhiều hơn tre, nứa. Nhưng, trên đường trường ta dân bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre cao vút mãi. Cây tre Việt Nam ! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam. 1955 Thép theo Trích giảng Văn học lớp 7, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980, có đối chiếu với cuốn Cây Ếre Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 Chú thích ★ Thép Mới 1925 - 1991 tên khai sinh là Hà Văn Lộc, quê ỏ quận Tây Hồ, Hà Nội, sinh ở thành phố Nam Định. Ngoài báo chí, Thép Mới còn viết nhiều bút kí, thuyết minh phim. Bài Cầy tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà điện ảnh Ba Lan. Thông qua hình ảnh cây tre, bộ phim thể hiện vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam, ca ngợi cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của dân tộc ta. Nứa, trúc, mai, vầu các giống cây cùng họ với tre nứa thân nhỏ và mỏng hơn tre, độ bền và dẻo kém hơn tre; trúc thân nhỏ, lá nhỏ, đốt thẳng; mai thân to hơn tre, gióng dài, lá to ; vầu thân nhỏ hơn mai. Nhũn nhặn thái độ khiêm tôn, nhún nhường ; ở đây nói về màu xanh bình dị, tươi mà không rực rỡ của tre. Bản làng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu sô' miền Bắc. Một thê'kỉ "văn minh", "khaihoá " chỉ thời kì thực dân Pháp đô hộ nước ta, cách nói mang ý nghĩa mỉa' mai, vì bọn thực dân thường rêu rao là đã "khai hoá văn minh" cho các xứ thuộc địa. 98 Giang cây thuộc loại tre, nứa, thân dẻo, gióng dài, dùng để chẻ lạt hoặc đan lát. ơ đây tác giả gợi đến câu tục ngữ "Lạt mềm buộc chặt". 7 - NV6/2 - B Cái thuở ban đầu lúc mới quen biết, có cảm tình với nhau thường nói về tình yêu đôi lứa. Cho mai lâỳ trúc mai là cây hoa mai không phải cây mai thuộc họ tre-, nứa, như ở chú thích 1, mai và trúc là hai cây đẹp thường đi đôi với nhau trong văn chương, hội hoạ thời cô’ để nói sự hoà hợp, tương xứng; ở đây là cách ví von để nói về ước nguyện kết duyên đôi lứa. Đánh chắt còn gọi là chuyền thẻ trò chơi dân gian của trẻ em, thường là của con gái, dùng một số que tre trải ra đất rồi tung một hòn sỏi hoặc một quả nhỏ lên lượm lây que tre và hứng lây vật vừa tung lên. Trò chơi này rèn luyện sự nhanh nhẹn và khéo léo. Nhắm mắt xuôi tay thành ngữ chết. Tầm vông loại tre thân nhỏ, cứng, đặc, không có gai, thường dùng làm gậy. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, vì thiếu thốn vũ khí, nhân dân đã dùng gậy tầm vông đánh giặc. Thành đồng TỔ quốc danh hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho Nam Bộ trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do. ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN Nêu đại ý của bài văn. Tìm bô" cục của bài và nêu ý chính của mỗi đoạn. Đê’ làm rõ ý "Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam", bài văn đã đưa ra hàng loạt những biểu hiện cụ thể. Em hãy Tìm những chi tiết, hình ảnh thê’ hiện sự gắn bó của tre với con người trong lao động và cuộc sông hằng ngày. Nêu giá trị của các phép nhân hoá đã được sử dụng đê’ nói về cây tre và sự gắn bó của tre với con người. Ở đoạn kết, tác giả đã hình dung như thế nào về vị trí của cây tre trong tương lai khi đất nước ta đi vào công nghiệp hoá ? Bài văn đã miêu tả cây tre với vẻ đẹp và những phẩm chất gì ? Vì sao có thê’ nói cây tre là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam ? Ghi nhớ Cây tre là người bạn thân thiêí lâu đời của người nông dân vầ nhân dân Việt Nam. Cây tre có vẻ đẹp bình dị và nhiều phẩm chất quý báu. Cây tre đã thành một biểu tượng của đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Bài Cây tre Việt Nam có nhiều chi tiết, hình ảnh chọn lọc mang ý nghĩa biểu tượng, sử dụng rộng rãi và thành công phép nhân hoá, lời văn giàu cảm xúc và nhịp điệu. LUYỆN TẬP Em hãy tìm một số câu tục ngữ, ca dao, thơ, truyện cổ tích Việt Nam có nói đến cây tre. ĐỌC THÊM Tre xanh Xanh tự bao giờ ? Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh Mà sao nên ỉuỹ nên thành tre ơi ? ơ đâu tre cũng xanh tươi Cho dù đất sỏi đất vôi bạc mầu ! Có gì đâu, có gì đâu Mỡ màu ít chắt dồn lâu hoá nhiều Rễ siêng không ngại đất nghèo Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù Vươn mình trong gió tre đu Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành Yêu nhiều nắng nọ trời xanh Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm... Nguyễn Duy, trích Tre Việt Nam trong tập Cát ưắng, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nôi, 1973
Trong những lúc gió êm trời đẹp, rất nhiều người đều thích đến ngoại ô hoặc công viên để thả diều. Diều có màu sắc rực rỡ, đủ kiểu đủ dạng bay lượn trên trời xanh, con người và thiên nhiên hoà làm một. Điều đó đối với người thả diều và ngắm diều đều là một loại hưởng thụ đẹp. Thế thì vì sao diều có thể bay lên trời xanh nhỉ? Nếu bạn chú ý quan sát thì sẽ phát hiện, diều bao giờ cũng đón gió mà bay, và “thân mình” của diều bao giờ cũng nghiêng xuống. Đó là điều mấu chốt làm cho diều có thể bay lên trời cao. Trước hết, diều bao giờ cũng hứng gió mà bay. Gió thổi lên diều sẽ sinh ra một áp suất đối với diều, và áp suất đó thẳng góc với mặt diều. Do mặt diều nghiêng xuống dưới, nên gió thổi tới có áp suất nghiêng lên trên đối với nó. Trọng lượng của diều rất nhẹ, áp suất hướng lên trên của không khí đủ để đưa diều lên trời xanh. Khi gió rất nhỏ, người thả diều thường kéo dây diều chạy nhanh đón gió, hoặc đứng tại chỗ không ngừng giật giật dây diều, lợi dụng sự ghì dây để điều chỉnh độ góc nghiêng xuống dưới của mặt diều. Đó đều nhằm tham gia áp suất hướng lên trên của không khí đối với diều, làm cho diều bay càng cao. Diều có cái lớn, cái bé, hình dạng cũng đủ kiểu đủ loại. Bên dưới của nó thường còn đính thêm một ít tua hoặc bông giấy làm thành cái đuôi. Nhìn từ góc độ vật lí học, đó là để làm cho trọng tâm của diều chuyển xuống dưới, có thể nâng cao độ thăng bằng của diều, làm cho nó bay càng ổn định thêm. Từ khóa Diều; Áp suất; Trọng tâm; Thăng bằng.
...Ấy là tình người, hồn quê, là ca dao, cổ tích Mùa thu, mùa buông diều thả lá. Từ xa xưa, cánh diều đã là ước mơ bay của những thiên thần bé nhỏ, những chủ nhân tương lai trên trái đất. Ước mơ bay là một trong những ước mơ vĩ đại nhất, lãng mạn nhất của con người. Ước mơ bay đã làm cho trái đất thăng hoa, cõi trần cất cánh. Khinh khí cầu, máy bay, vệ tinh, tàu vũ trụ…, chính là những phiên bản mới của ước mơ bay trên cánh diều tuổi thơ có từ vạn năm thuở trước! Cánh diều Việt Nam, là một trong những biểu tượng độc đáo của Văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước. Trên đôi cánh mong manh, trầm bổng tiếng sáo trúc hiền hòa, thân thương ấy là tình người, hồn quê là ca dao, cổ tích là tâm linh, tín ngưỡng và cả những buồn vui của một dân tộc, một đất nước nghìn năm văn hiến, bốn mùa mây trắng, trăng thanh bên bờ biển Đông nồm nam lộng gió cánh diều. Loại diều truyền thống cổ nhất của Việt Nam là diều cánh roi, hình hạt lúa. Diều Hạt Lúa được buông, thả trên bầu trời như những mong ước một vụ mùa bội thu, như gửi lòng biết ơn đến Thần Nông, vị thần gần gũi với nông gia. Những lễ hội diều truyền thống Các tỉnh phía Bắc hiện vẫn còn lưu dấu những Lễ hội diều truyền thống như ở Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Nội…Trong đó, đáng kể nhất là Lễ hội diều Thiên Cầm-Đông Thanh, Bá Dương Nội-Đan Phượng, Song Vân-Hiệp Hòa, Sáo Đền-Quí Sơn… Lễ hội diều truyền thống lâu đời nhất miền Bắc được tổ chức đều đặn vào ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm diễn ra ở làng Bá Dương Nội, xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng, thủ đô Hà Nội. Ở làng Bá Dương Nội, hầu như ai cũng biết làm diều. Lúc nông nhàn, người ta làm diều ngay trước hiên nhà hoặc nơi sân đình, bến nước. Những con diều tham gia dự thi lễ hội này được chế tác hoàn toàn thủ công, cõng sáo bộ 2 hoặc bộ 3. Diều sáo Bá Dương Nội có ba loại diều cánh mộc, diều cánh chanh và diều cánh muỗm. Sáu mươi cánh diều ưng ý nhất được tuyển chọn dự thi trong lễ hội diều Bá Dương Nội, tượng trưng cho sáu mươi năm cuộc đời, cho chu kỳ chuyển dịch của vũ trụ, cùng thả trên bầu trời niềm hy vọng giản dị, khôn nguôi về một cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Lễ hội diều sáo Đền ở thôn Quí Sơn, xã Song An, Vũ Thư, tỉnh Thái Bình diễn ra từ ngày 20 đến ngày 27 tháng 3 âm lịch mỗi năm là lễ hội diều truyền thống dài ngày nhất, hoành tráng nhất vùng hạ lưu sông Hồng. Hội diều sáo Đền từ ngọn nguồn một câu chuyện đậm chất sử thi, huyền thoại. Hội diều sáo Đền hơn 500 năm nay, không chỉ là cuộc chơi dân dã mà còn là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân quê lúa. Lễ hội diều sáo Đền diễn ra ở đền thờ hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Bà Ngô Thị Ngọc Dao là cháu ngoại quốc công Đinh Lễ, vợ vua Lê Thái Tông, mẹ vua Lê Thánh Tông. Năm 1471, Lê Thánh Tông cho xây đền An Lão để mẹ tụng kinh, niệm phật, vui thú tuổi già. Khi mới khánh thành, đền này được đặt tên là Đốc Hỗ. Sau khi bà Ngô Thị Ngọc Dao mất, Lê Thánh Tôn đổi Đốc Hỗ thành Quốc Mẫu, thánh chỉ nơi đây thành nơi thờ cúng mẹ vua. Ngày chính của Lễ hội diều sáo Đền cũng chính là ngày mất của bà Ngô Thị Ngọc Dao. Cùng với việc cúng giỗ Quốc Mẫu, hội thả diều như một nghĩa cử của người dân tưởng nhớ đến Tam quốc công là Đinh Lễ, Đinh Bồ, Đinh Liệt cùng với các tướng sỹ có công phù tá triều Lê, đồng thời cũng là những mục đồng tuổi thơ diều sáo. Lễ hội diều sáo Đền chỉ có một giải thưởng duy nhất với những tiêu chí và thể lệ chấm thi cực kỳ nghiêm ngặt. Trên bãi cỏ diễn ra cuộc thi, người ta dựng 2 cây sào tre thẳng tắp cắm 2 lưỡi mác bén ngọt, cách nhau 50m. Những diều dự thi không đảm bảo kỹ thuật, bị đảo gió, chao ngang, lập tức lưỡi mác cắt dây và đương nhiên bị loại. Diều thắng cuộc phải là con diều đẹp, cân xứng, kéo được trên trăm sải dây buông, tiếng sáo du dương, ngọt ngào, êm dịu, vang xa và đậu ở lưng chừng trời suốt 7 ngày đêm của lễ hội. Công nghệ chế tác diều và sáo Diều Việt truyền thống được chế tác trong không gian thư thái, tràn ngập đam mê, lung linh mỹ cảm, chứa chan khát vọng cùng với những trải nghiệm quê mùa chân thành, chất phác. Một con diều truyền thống gồm hai phần riêng biệt Thân diều và bộ sáo. Thân diều được hình thành qua 2 công đoạn, dựng khung và lợp diều. Khung diều được chẻ, vót, chuốt…, từ cây tre hóp đực, dày cật, thẳng dóng, mọc giữa bụi. Để cho khung diều nhẹ, dẻo, bền, đàn hồi, không mối mọt, người ta luộc kỹ những dóng tre hóp trong nước vôi pha muối. Dựng khung diều theo trình tự Đầu diều, tai diều, đuôi diều, tim diều và lên dây cung. Khung diều phải cân xứng giữa hai cánh, bụng và đuôi để diều không bị đảo, bay được cao. Lợp diều bằng giấy gió còn gọi là giấy bản với chất dính là nhựa sung già hoặc hồ nếp. Sau đó, màu diều được nhuộm vàng, nâu hoặc cánh gián. Diều truyền thống phổ biến nhất là diều cánh roi, diều cánh cốc còn gọi là diều cánh tiên, diều mặt nguyệt, diều bướm, diều chú Tễu… Nếu như thân diều thể hiện hình hài, nhan sắc thì sáo diều phát lộ âm thanh giai điệu. Mỗi thân diều đều cõng theo một bộ sáo tương xứng. Có thể ví diều và sáo như một cặp tình nhân, nếu cọc cạch, lệch pha thì không thể bay bổng, đồng hành trong gió. Sáo diều truyền thống có ba loại, sáo Bi còn gọi là sáo đơn, sáo Kép còn gọi là sáo chị em và sáo Ba còn gọi là sáo con khóc mẹ ru. Sau này, các nghệ nhân sáng tạo thêm sáo bộ 5, bộ 7, bộ 9. Hiện đang giữ kỷ lục Guinness Việt Nam là bộ sáo 13 ống của Câu lạc bộ diều sáo Kiến Thụy-Hải Phòng. Những vương quốc sáo diều nổi tiếng hiện nay là Bách Thuận-Thái Bình, Đường Sơn-Bắc Giang, Thủy Nguyên-Hải Phòng…Sáo diều truyền thống được chế tác từ tre, gỗ và sơn ta. Ống sáo được tuyển từ những gióng trúc già lũa đã chết róc trong bụi, hoặc tre kiến 10 tuổi, cắt thành từng đoạn dài, ngắn khác nhau tùy theo tiêu chí từng bộ sáo. Đoạn giữa ống trúc giữ nguyên cật, đục thông một lỗ vuông chính giữa và vuông góc với thân ống. Cách đều 2 đầu ống tiện 2 rãnh sâu chừng 1mm, lột bì trúc rồi chuốt sạch, xử lý chống mối mọt. Miệng sáo, vách ngăn được làm bằng lõi gỗ thị, gỗ mít hoặc gỗ vàng tâm. Đó là những loại gỗ mềm, nhẵn thớ, dễ gọt. Khó nhất trong công đoạn chế miệng sáo là khâu mổ lỗ, căn vách. Sau cùng là gắn miệng sáo, vách ngăn vào ống sáo bằng sơn ta. Một bộ sáo có bè nhạc hay, âm sắc hư ảo, réo rắt, đặc tả tròn vành “tiếng mẹ”, “tiếng con”, đòi hỏi bàn tay nghệ nhân phải khéo léo, tinh tế từ khâu chọn tre, chọn gỗ, tạo vách, khoét miệng… Muốn thanh âm tiếng sáo vang xa, nghiền thủy tinh thành bột, trộn sơn hoặc keo, quét đều trong lòng ống sáo. Một bộ sáo truyền thống âm sắc phải nhu nhuận, chuẩn theo cung bậc Cồng, còi, go, gí, gộ. Với chủ đề “Khám phá văn minh sông Hồng” tại Trung tâm triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, số 2 Hoa Lư-Hà Nội, từ ngày 21 đến ngày 24 tháng 11 năm 2012, Câu lạc bộ diều sáo Việt Nam cùng câu lạc bộ sáo diều các tỉnh trong cả nước, lần đầu tiên đã giới thiệu được một số sản phẩm nghệ thuật sáo diều truyền thống và đương đại của Việt Nam, gồm 50 kiểu sáo bộ và hàng trăm mẫu diều phá cách. Bầu trời diều Việt ba miền Festival diều quốc tế Vũng Tàu, góp thêm gam màu khác lạ cho cánh diều phương Đông. Liên hoan diều quốc tế lần thứ 21 năm 2012, diễn ra 9 ngày tại thành phố Berck thuộc miền Bắc nước Pháp với chủ đề “Vũ điệu hòa bình” đã thành công ngoài mong đợi, chứng tỏ nhân loại vẫn luôn chấp chới say mê, ngưỡng mộ những sản phẩm văn hóa mô phỏng ước mơ bay có từ thời tiền sử. Ở Việt Nam, từ năm 2009 đến nay đã tổ chức 4 lần Festival diều quốc tế tại Vũng Tàu với sự tham gia của 25 nước. Năm 2011, với chủ đề “Chung một bầu trời”, Nhật Bản đã đem diều Rokkaku diều lục giác tham gia Festival diều quốc tế Vũng Tàu, góp thêm gam màu khác lạ cho cánh diều phương Đông. Khoảng 2 thập kỷ nay, từ Bắc vào Nam, phong trào chơi diều nở rộ. Ở Sài Gòn có hàng chục đồng diều tự phát nhờ những mặt bằng qui hoạch treo như Ngã tư Giếng Nước-Hóc Môn, Nguyễn Văn Lượng-Gò Vấp, Kênh Tẻ-Quận 8, chân cầu Thủ Thiêm-Quận 2, ven kênh Nhiêu Lộc-Quận 3, đường Nguyễn Văn Linh-Quận 7 …Người Sài Gòn chơi diều “đa phong cách” vào bất cứ lúc nào. Cứ chiều thứ 7, chủ nhật, nếu trời đẹp là những đồng diều nội đô, ngoại thành lại hoạt động nhộn nhịp chẳng khác gì lễ hội. Dân chơi diều đủ thành phần, lứa tuổi, nam nữ, từ bé mầm non đến bô lão 80, từ dân lao động nghèo đến các đại gia…, thậm chí có gia đình cả vợ chồng con cái cùng tham gia thả diều. Người Sài Gòn thường chơi diều nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore…, với giá bán lẻ từ đến đồng một chiếc, đa phần là loại diều khí động học, diều thể thao Delta 3D, diều đèn les, diều bạch tuộc, diều siêu nhân… Mới đây Câu lạc bộ diều Phượng Hoàng vừa ra mắt con diều bạch tuộc khổng lồ dài 50m, riêng số vải dù lợp cho con diều này hết 500 m2. Dân Sài Gòn đi thả diều chẳng khác gì như đi chơi Gol, cầu lông, tennis, hay đi câu…, cũng đeo túi da đựng diều sành điệu diều công nghiệp được tháo ráp rất gọn nhẹ. Ăn theo trào lưu chơi diều là các dịch vụ mua bán, sửa chữa, trang trí…cho diều, gần đây còn xuất hiện dịch vụ huấn luyện viên thả diều, dịch vụ tư vấn chọn diều, chọn sáo cho những người lần đầu chơi diều, còn bỡ ngỡ. Thuật buông diều cũng như chăm bẵm trẻ con, phải tung tẩy, cương nhu, tránh ngả nghiêng, chao đảo, bay cao nhưng không bay mất…! Dân Huế chơi diều theo cách riêng. Đa phần diều Huế tiếp thu vẻ đẹp quyền quí, cao sang của loại hình diều cung đình triều Nguyễn. Thời vua Đồng Khánh, Bảo Đại, hàng năm đều có Hội diều hoành tráng ở quảng trường Ngọ Môn. Hình hài diều Huế thiên về đặc tả những con vật thuộc hàng tứ linh như long, ly, qui, phụng. Thời hiện đại, diều Huế ảnh hưởng trường phái diều nghệ thuật của Pháp, các nghệ nhân sử dụng vải, sơn dầu, bột luy- mi- nơ để chế tác. Huế đã 9 lần tham gia Liên hoan diều quốc tế và đoạt nhiều giải thưởng. Nhiều nghệ nhân diều Huế nổi tiếng trong nước và thế giới như Đoàn Chước, Ưng Hạng, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Đăng Hoàng… So với Sài Gòn, Huế, bầu trời thủ đô Hà Nội có vẻ vắng cánh diều hơn. Nội thành Hà nội cũng có một số đồng diều tự phát như Khu đô thị Việt Hưng-Quận Long Biên, Mỹ Đình-Quận Cầu Giấy, bờ đê Yên Phụ-Quận Tây Hồ…Sự kiện nổi bật nhất ở thủ đô đầu thế kỷ 21 là Liên hoan nghệ thuật diều Hà Nội ngày 6 tháng 10 năm 2010, nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, tại quảng trường sân vận động Mỹ Đình, với chủ đề “Hà Nội-Bầu trời hòa bình” đã thu hút sự tham gia của hàng chục câu lạc bộ diều danh tiếng. Những cánh diều bay trên bầu trời Thăng Long-Hà Nội, không chỉ mang theo cùng mây gió những tâm hồn mộng mị, đài tranh, đời thường của người Tràng An mà còn có ý nghĩa thiêng liêng về mảnh đất linh ứng huyền thoại rồng bay. Trong “Năm du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng 2013”, dự kiến sẽ tổ chức Hội thi diều sáo ở bãi biển Quất Lâm, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định để giới thiệu với du khách năm châu về vẻ đẹp riêng của những cánh diều Việt của một đất nước thời nào cũng khát vọng cất cánh, bay xa, bay cao . “Diều lên theo gió, đôi cánh bình yên” Ký ức về một khoảng trời xanh, lững lờ mây trắng, về một cánh đồng thơm mùi cỏ mật Kỷ niệm tuổi thơ của mỗi người Việt Nam bao giờ cũng có cánh diều chao nghiêng những miền ký ức. Ký ức về một khoảng trời xanh, lững lờ mây trắng, về một cánh đồng thơm mùi cỏ mật, về lũy tre vương khói lam chiều, về mái phố rêu phong cổ kính, về dòng sông quanh quẩn làng quê…Và tiếng sáo diều đêm trăng nữa. Sáo diều đêm trăng chợt nghe như thể đàn trời. Gió lẩy đàn trời cho cõi người nửa tỉnh nửa say, quên hết đắng cay, mơ về nơi vô vi cực lạc. Có lẽ trong số những thành tựu văn hóa do con người sáng tạo ra, diều và sáo diều là cặp đôi hình hài và âm thanh hồn nhiên nhất, hiền hòa nhất, gợi cảm nhất. Nó đối lập với súng gươm, thù hận. Nó kết nối vẻ đẹp của đất trời, của nghĩa tình đồng loại. Trên bầu trời, dưới mặt đất hiện nay có hàng trăm kiểu vóc dáng những cánh diều khác nhau với nhiều màu sắc, âm thanh tươi mới, khác lạ, chứng tỏ sự tiến bộ và xu hướng hội nhập của thời đại. Mỗi người đều có quyền lựa chọn cho mình một con diều theo sở thích. Nhưng đã là người Việt thì những chiếc diều cánh roi, hình hạt lúa, lợp giấy gió, màu cánh gián, sáo bộ đôi… luôn hiệu ứng, dư âm một không gian cảm xúc mộc mạc, tinh tế, bay bổng, lắng đọng…trên cánh đồng chiều sau mùa gặt, bờ bãi lúc hoàng hôn, mái phố cổ tiết thu phân, đêm trăng thanh gió mát…, mãi mãi là bóng hình huyền ảo, lãng đãng suốt đường đời từ khi thơ bé đến đầu bạc răng long. Nếu vì lý do nào đó, chiều nay, bạn nhớ diều mà không thể đến đồng diều thì hãy nghe ca khúc “Những cánh diều miền Bắc” của Văn An, do ca sỹ Vân Anh thể hiện. Bạn sẽ được cùng “chiều về, diều lên theo gió. Đôi cánh bình yên…Chiều về, diều vang tiếng sáo. Êm mướt đường tơ…”! SÀI GÒN 2013 NGÔ QUỐC TÚY Cảm ơn tác giả đã gửi bài tới Quê Nhà
diều bay diều lá tre bay lưng trời